Showing posts with label Phương Pháp Giảng Dạy. Show all posts
Showing posts with label Phương Pháp Giảng Dạy. Show all posts

Những thắc mắc thường gặp của giáo viên tiếng Anh

(Global Education) - Là một giáo viên dạy tiếng Anh, ngoài kiến thức chuyên môn vững chắc, khả năng truyền đạt, bạn còn phải là một người nhạy bén và linh hoạt trong ứng xử bởi khi đứng lớp, sẽ có rất nhiều những vấn đề bạn có thể gặp phải. Vậy đó có thể là những vấn đề gì?

Global Education chia sẻ một số những thắc mắc và những cách giải quyết tham khảo dưới đây. Hi vọng chúng sẽ ít nhiều giúp ích cho công việc giảng dạy tiếng Anh của bạn.

1. Đôi khi tôi không hiểu học viên của mình nói gì hoặc định nói gì? Những lúc đó tốt nhất tôi nên làm như thế nào?

Trong một số trường hợp khi bạn không hiểu học viên của mình nói gì, thay vì yêu cầu họ nhắc lại, hãy yêu cầu họ giải thích lời nói của mình. Trong khi nghe, hãy ghi lại những điểm đặc biệt trong cách phát âm hoặc sử dụng cấu trúc của học viên đó để rút kinh nghiệm cho những lần phát biểu tiếp theo của học viên.

2. Tôi nên sửa lỗi phát âm của học viên như thế nào?

Nhiệm vụ của bạn lúc này không phải là xóa đi hoàn toàn đặc trưng phát âm của học viên mà cần phải giúp học viên nắm được cách phát âm chuẩn để họ có thể thực hành cách phát âm đó một cách chính xác nhất. Bạn có thể tham khảo những cách sau đây:

* Làm mẫu một cách rõ ràng, thường xuyên nhắc lại những âm quan trọng và những điểm cần thiết phải lưu ý.
* Biểu thị cơ cấu cách thức phát âm của mỗi âm (như vị trí lưỡi, môi, răng…) một cách sinh động và dễ hiểu.
* Lưu ý các âm tiết và âm nhấn (minh họa bắng cách vỗ tay theo nhịp hoặc đếm).
* Chú ý đến các biến tố (inflection) – cần lưu ý rằng ngay cả từ và câu cũng có thể bị hiểu sai – dẫn đến sử dụng sai và trở thành thói quen khó bỏ nếu như học viên không khắc phục những biến tố khi phát âm ngay từ đầu.
* Cân nhắc nhịp điệu trong quá trình nói. Khuyến khích học viên của mình nói chậm để lời nói trở nên rõ ràng, dễ hiểu hơn.

3. Đâu là cách tốt nhất để tiếp cận việc dạy và học ngữ pháp?

Cách tốt nhất là sử dụng những chi tiết gần với đời sống thường ngày, những tài liệu thực tế như các chương trình truyền hình được ghi băng lại, bài viết của chính học viên hay những bài hội thoại…, yêu cầu học viên nhận dạng những dạng thức ngữ pháp hoặc thành ngữ dễ gây nhầm lẫn. Bạn có thể sử dụng chính những cấu trúc đó làm chủ điểm giảng dạy để bài giảng có tính thực tiễn và thu hút sự chú ý của học viên hơn. Bạn nên giới hạn 1, 2 chủ điểm ngữ pháp trong 1 buổi dạy và đưa ra nhiều cơ hội để học viên thường xuyên thực hành và ôn tập.

4. Một số học viên của tôi không thể theo kịp lớp, nhưng tôi không thể vì thế mà dạy chậm lại được, sẽ ảnh hưởng đến tiến độ của cả lớp. Phải làm gì bây giờ?

Hãy tạo một bầu không khí thoải mái trong lớp học để chính học viên của bạn có thể trở thành người đưa ra các câu hỏi và thắc mắc trong giờ học.

* Mỗi khi đặt câu hỏi, bạn hãy dành thêm thời gian cho các học sinh kém hơn phân tích câu hỏi và tìm câu trả lời. Đừng sốt ruột và sợ cháy giáo án, chỉ mất thêm 1 – 2 phút là bạn đã tạo thêm cơ hội cho những học viên kém trong lớp của mình được theo kịp các học viên khác rồi đấy!
* Đối với mỗi buổi dạy, hãy xác định mục tiêu rõ ràng, phương pháp giảng dạy và những chủ điểm chính trong bài dạy của mình. Đừng quên tổng kết lại sau mỗi buổi dạy nhé!
* Hãy cho học viên của bạn biết điểm nào là điểm quan trọng họ cần ghi nhớ.
* Dành ra khoảng 2 phút cuối mỗi buổi dạy để yêu cầu học viên viết ra giấy những gì họ đã học được cũng như những điểm mà họ chưa thực sự hiểu rõ và thu lại. Bạn hãy dùng những chi tiết đó để bắt đầu buổi dạy lần sau. Chúng sẽ rất có ích đấy!

5. Học viên của tôi muốn có nhiều cơ hội hơn để thực hành nói (speaking) ngoài giờ học. Tôi nên giúp họ như thế nào?

Thực hành và luyện tập là chìa khóa dẫn đến thành công khi học bất kỳ một ngoại ngữ nào. Hãy khuyến khích học viên của mình dành một khoảng thời gian nhất định mỗi ngày khi ở nhà để sử dụng tiếng Anh như một thứ ngôn ngữ duy nhất. Đồng thời bạn hãy khuyên họ cố gắng tạo ra nhiều cơ hội tiếp xúc với những người nói tiếng Anh khác bằng cách tình nguyện tham gia các hoạt động cộng đồng tại trường học, cơ quan…

Trên đây là một số thắc mắc mà các giáo viên thường gặp trong quá trình dạy tiếng Anh và một số gợi ý giúp bạn tìm ra cách giải quyết vấn đề hiệu quả nhất. Chúc các bạn luôn là những người dẫn đường tin cậy cho các học viên của mình!

Đọc Tiếp

Co-teaching - Phương pháp dạy tiếng Anh hiệu quả

(Global Education) - Một cuộc điều tra gần đây cho thấy tại các trường quốc tế tại Việt Nam, phương pháp dạy học hợp tác (co-teaching) thường được áp dụng khá phổ biến. Vậy phương pháp này là gì và hiệu quả mà nó mang lại ra sao?

Dạy học hợp tác (co-teaching) có nghĩa là hai giáo viên cùng hợp tác với nhau để dạy một tiết học. Họ cùng nhau chuẩn bị giáo án lên lớp, phối hợp giảng dạy, cùng sử dụng các dụng cụ trong lớp học để phục vụ cho bài giảng của mình. Họ có trách nhiệm như nhau đối với các học viên trong lớp.

Một điều dễ nhận thấy là khi áp dụng phương pháp dạy học hợp tác thì tỉ lệ học viên trên một giáo viên sẽ giảm xuống và điều này là một điểm mạnh của phương pháp giáo dục theo kiểu này. Ở Việt Nam, phương pháp này chưa phổ biến và chỉ mới được áp dụng ở một vài trường quốc tế. Để đạt được hiệu quả cao nhất trong việc giảng dạy, có nghĩa là cả học viên và giáo viên cùng hài lòng với bài giảng thì hai giáo viên phải chú ý những điểm sau:

*Thống nhất lịch dạy với nhau, phân công rõ ràng phần việc của từng người để tránh trường hợp cả hai giáo viên cùng muốn dạy một phần trong bài.

*Phân công rõ thời gian làm việc, tránh trường hợp cả hai người cùng nói một lúc.

*Đảm bảo chắc chắn rằng vai trò của cả hai giáo viên trong lớp học là ngang bằng nhau.

*Cả hai có thể thảo luận và thống nhất về vai trò cũng như trách nhiệm của cả hai người trong lớp học.

Trong trường hợp bạn dạy chung lớp với ai đó thì đây là một cách mà bạn có thể áp dụng:

1. Một người giảng và một người viết

Với cách này, một giáo viên có thể dạy bằng cách nói và giảng cho học viên nghe, còn người kia có thể ghi lại những ý quan trọng trên bảng để học viên có thể tiện theo dõi. Bằng cách chuyên môn hoá này, người giảng sẽ không bị mất cảm hứng hoặc phải nói chậm lại trong khi giảng bài do phải ngừng lại để viết lên bảng. Thêm vào đó, mỗi giáo viên đều làm việc với cả lớp học và học viên có thể theo dõi bài học bằng cả hai phương thức khác nhau - nói và viết - một cách liền mạch và thống nhất.

2. Dạy song song

Nếu bạn sử dụng phương pháp này, bạn có thể chia lớp học ra làm hai nhóm theo hai trình độ khác nhau: một nhóm khá và một nhóm kém hơn - mỗi giáo viên dạy một nhóm. Bằng cách này, bạn sẽ phát huy được điểm mạnh của dạy học theo nhóm. Đó là học viên trong lớp sẽ được quan tâm và kèm cặp sát sao hơn, cũng như được dạy và học theo đúng với trình độ của mình hơn, tránh được tình trạng các học viên khá phải chờ đợi hoặc học chương trình thấp hơn khả năng tiếp thu của họ, còn học viên kém lại phải học đuổi cho kịp với các bạn khá trong lớp.

3. Dạy so le

Phương pháp này có thể sử dụng khi cả hai giáo viên thống nhất phân chia bài dạy với nhau. Mỗi người sẽ giảng dạy từng phần của bài học. Điểm mạnh của phương pháp này là mỗi giáo viên sẽ được dạy phần bài mà mình chuyên sâu hoặc yêu thích nhất. Phương pháp này khá khích lệ giáo viên vì họ có thể chọn giảng những phần mà họ thích và có thể áp dụng cho một hoặc nhiều bài học trong một kỳ học. Tuy nhiên, phương pháp này cần sự phối hợp chặt chẽ giữa hai giáo viên để tránh tình trạng chồng chéo bài giảng.

4. Một giảng viên cùng làm việc với một trợ giảng

Những người sử dụng phương pháp này thường là những giáo sư danh tiếng vì những người này không muốn mất thời gian vào làm những việc khác khi lên lớp vì như thế thì sẽ mất hết cảm hứng giảng bài và cũng mất thời gian quý báu của họ. Vì vậy, phương pháp chọn trợ giảng là phương pháp tối ưu trong trường hợp này. Phương pháp này cũng có thể áp dụng trong các lớp học với chuyên gia người nước ngoài. Trợ giảng sẽ đóng vai trò giống như một phiên dịch, giúp giảng viên chính và học viên vượt qua các rào cản về ngôn ngữ khi phải tiếp xúc với những thuật ngữ hay khái niệm khó hiểu.

Quả là dạy học hợp tác mang lại rất nhiều lợi ích phải không các bạn? Hy vọng là sau bài viết này, các bạn sẽ hiểu rõ hơn về phương pháp giảng dạy mới mẻ này và có thể áp dụng nó một cách hiệu quả. Chúc thành công!

Đọc Tiếp

Những điểm cần lưu ý khi dạy học theo nhóm

(Global Education) - Việc chia nhóm nên được tiến hành như thế nào, dựa vào những yếu tố gì để mang lại hiệu quả trong quá trình giảng dạy. Hãy cùng Global Education tìm hiểu một số yếu tố mà bạn cần cân nhắc trước khi chia nhóm học viên của mình!

1. Mục đích giảng dạy

Việc chia nhóm sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều nếu bạn xác định rõ mục đích của bài giảng và mục đích của từng hoạt động trong bài giảng.

2. Khả năng và trình độ học viên

Đây cũng là một nhân tố khác cần lưu ý. Phần lớn các lớp ngoại ngữ đều có rất nhiều học viên với nhiều trình độ khác nhau. Bạn có thể chia nhóm tùy theo tính chất, yêu cầu của bài tập sao cho học viên cùng một nhóm có trình độ đa dạng khác nhau để giúp đỡ, bổ trợ cho nhau hoặc gần tương đương với nhau để cùng phấn đấu tiến bộ.

3. Tính cách, phong cách của học viên

Mỗi học viên có mỗi tính cách, cá tính khác nhau, vì vậy bạn cũng nên cân nhắc đến điều này khi chia nhóm. Phần lớn các học viên đều có thể làm việc hòa hợp với nhau nhưng đôi khi có những học viên lại không làm việc một cách tích cực. Ví dụ như cùng 1 nhóm nhưng có người lại khá rụt rè bên cạnh một người khác lại khá trội và thường chi phối những thành viên khác trong nhóm. Khi đó bạn cần suy nghĩ thấu đáo để xếp nhóm những học viên này.

4. Qui mô lớp học

Với những lớp có từ 20 – 30 học viên thì bạn có thể quản lí các cặp và nhóm một cách khá dễ dàng. Nhưng đối với những lớp có đông học viên hơn thế, bạn cần lên kế hoạch thật kỹ càng để tránh tình trạng có những nhóm chỉ có số ít thành viên “lao động nghiêm túc”, những người còn lại chỉ ngồi chơi mà vẫn được hưởng kết quả chung của cả nhóm.

Quà tặng đặc biệt

Phần mềm học tiếng Anh

Luyện nói tiếng Anh

5.Kinh nghiệm làm việc nhóm trước đây của chính học viên

Nếu như học viên chưa từng làm quen với mô hình làm việc theo nhóm thì đây là lúc bạn cần phát huy tích cực vai trò của mình trong việc giới thiệu những nguyên lý và phương pháp cơ bản của làm việc theo nhóm. Trong trường hợp học viên đã từng làm nhóm trước đó và thu lượm được những kinh nghiệm nhất định, bạn nên dành thêm thời gian để họ chia sẻ và trao đổi thêm kinh nghiệm, thông tin với các học viên khác về phương pháp làm việc này.

6. Đặc điểm của bài tập giao cho học viên

Một bài tập thảo luận có thể được chia làm theo nhóm, nhưng một bài tập role-play hay pair-work lại được làm theo cặp đôi. Tuy nhiên tùy theo nhu cầu của các nhóm cũng như mục đích của bài học, các bài tập giao cho học viên làm có thể được tiến hành theo cách khác, khi đó một bài tập role-play có thể được làm theo nhóm hoặc cả lớp, và bài tập thảo luận lại có thể được làm theo đôi.

7. Sự cân bằng của những mô hình tương tác trong bài học

Trong một buổi dạy, nếu như học viên phải làm bài tập cá nhân từ đầu đến cuối, họ sẽ mất tập trung và sớm cảm thấy nhàm chán; việc làm theo cặp từ đầu đến cuối buổi học cũng cho kết quả tương tự, học viên sẽ có thể chuyển sang nói chuyện riêng ngay khi họ cảm thấy nhàm chán và điều này cũng không có nghĩa là việc duy trì vai trò trung tâm của giáo viên từ đầu đến cuối sẽ là một giải pháp hay. Họ cần một sự cân bằng giữa các mô hình tương tác trong cùng 1 giờ học.

8. Động lực làm việc theo nhóm của lớp

Nói cách khác là những mối quan hệ giữa các học viên và cách những học viên trong cùng lớp cư xử với nhau trong lớp cũng như ngoài giờ học. Kết quả làm việc của một nhóm mà mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm đó tốt bao giờ cũng cao hơn kết quả của nhóm mà các thành viên luôn ganh ghét, đố kị với nhau bởi chính sự ganh ghét, đố kị sẽ khiến họ khó mà thống nhất được ý kiến, khó mà bỏ qua được cái tôi cá nhân vì lợi ích tập thể.

Vậy là với 8 điểm cầu lưu ý trên đây, Global Education đã phần nào giúp bạn tìm hiểu những yếu tố có thể có ảnh hưởng (tốt hoặc không tốt) đến chất lượng và hiệu quả của việc phân chia học viên làm bài tập nhóm. Chúc các bạn luôn thành công với bài giảng của mình!

Đọc Tiếp

Sử dụng máy tính trong lớp học

(Global Education) - Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, việc ứng dụng máy tính – một trong những công nghệ tân tiến vào giảng dạy trong lớp học đã dần trở nên phổ biến. Global Education giới thiệu một số kinh nghiệm giúp giáo viên sử dụng máy tính một cách hiệu quả và có ích cho người học.

1. Máy tính không phải là trung tâm của lớp học

Máy tính cũng như các công cụ học tập khác (bảng, đài, máy ghi âm…). Điều quan trọng nhất là giáo viên không được làm cho máy tính trở thành trung tâm của lớp học vì nếu không học viên sẽ không chú ý vào bài giảng của bạn. Có rất nhiều trường hợp, đặc biệt là trong những lần đầu sử dụng máy tính cho lớp học, chiếc máy tính bỗng trở thành trung tâm của buổi học hôm đó và học viên không chú ý nhiều tới bài học nữa. Bạn cần làm rõ cho học viên thấy, chiếc máy tính cũng chỉ là công cụ để họ tiếp thu bài học nhanh và hiệu quả hơn mà thôi.

2. Tận dụng tối đa lợi ích của máy tính

Hãy tận dụng tối đa những lợi ích mà máy tính mang lại. Với một vài kỹ năng, ví dụ như nghe và phát âm, thì sử dụng máy tính tỏ ra có hiệu quả hơn hẳn so với những phương pháp truyền thống. Ví dụ, khi sử dụng đài, bạn chỉ có thể cho học viên nghe và làm bài thuần tý nhưng với máy vi tính, bạn có thể cho họ xem những tình huống cụ thể với hình ảnh sống động. Chắc chắn, học viên của bạn sẽ tiếp thu bài hiệu quả hơn nhiều và họ sẽ hứng thú hơn với giờ học nghe.

Tương tự như vậy, với giờ học phát âm. Bạn có thể tận dụng những phần mềm học phát âm để giúp cho giờ học hiệu quả hơn. Những phần mềm này có cả hình ảnh chuyển động của khoang miệng, vị trí đặt lưỡi, răng, v.v cho mỗi âm tiết. Với những hình ảnh sống động như vậy, học viên của bạn sẽ dễ dàng tưởng tượng ra cách phát âm hơn rất nhiều so với khi bạn miêu tả cách phát âm một âm tiết. Hơn nữa, khi sử dụng những phần mềm này bạn vừa tiết kiệm được thời gian vừa không mất công miêu tả cách phát âm.

3. Kết nối mạng internet

Cuối cùng, nếu máy tính của lớp học được kết nối internet, điều này sẽ giúp cho học viên những tìm kiếm những tài liệu cần thiết. Hơn nữa giáo viên cũng có thể hướng dẫn họ cách tìm kiếm và chọn lọc các tài liệu học tập liên quan.

Kết nối internet thực sự hữu ích cho giờ học tiếng Anh chuyên ngành vì bạn có thể tra trên mạng ngay những thuật ngữ chuyên ngành cần biết. Thêm vào đó, trong quá trình tra từ và tìm tài liệu, học viên của bạn cũng tìm thêm được nhiều thông tin khác cần thiết cho bài học của họ.

Tuy nhiên, bất cứ cái gì cũng có tính hai mặt của nó. Vì vậy, khi sử dụng máy tính bạn cần chú ý một số điều sau đây:

Luôn sẵn sàng

Trước hết, bạn cần chú ý luôn bật máy tính và ổ đĩa, download các chương trình về máy trước khi lớp học bắt đầu. Vì nếu không học viên sẽ tập trung vào nhiệm vụ mà họ phải làm (ví dụ như download) hơn là những gì mà họ có thể làm để tiếp thu được bài học.

Không ép buộc

Nếu một học viên nào đó không thích sử dụng máy tính thì bạn đừng nên bắt ép họ, hãy cho những học viên khác sử dụng máy tính thay họ. Cũng đừng nên bắt ép học viên sử dụng chuột hay bàn phím. Bạn nên để họ làm quen dần dần. Sau khi họ đã quen với công nghệ mới, tự bản thân họ sẽ cảm thấy sử dụng chúng dễ dàng hơn vì nói cho cùng bạn đang dùng máy tính để dạy tiếng Anh chứ bạn không dạy vi tính.

Duy trì một lớp học đa phương tiện (multimedia)

Cho đến khi học viên của bạn đã sử dụng thành thạo máy vi tính cho việc học tiếng Anh của họ thì bạn vẫn nên khuyến khích họ sử dụng những phương tiện khác để bài học cũng như phương pháp trở nên phong phú, tránh nhàm chán. Họ có thể tự khám phá ra điểm mạnh, điểm yếu của từng phương pháp, từng dụng cụ học tập và từ đó chọn cho mình cách tốt nhất hoặc kết hợp sử dụng nhiều cách khác nhau miễn sao đạt được kết quả tốt.

Sử dụng hợp lý

Bạn nên sử dụng máy tính cho lớp học theo từng bước, không nên giới thiệu cả một seri những bài tập phức tạp trong một buổi học. Bạn nên bắt đầu bằng cách làm một khối lượng bài tập nhất định với máy tính (chẳng hạn, một bài tập nghe và một trò chơi ô chữ).

Ví dụ, trong một giờ học phát âm, bạn có thể dùng máy tính hỗ trợ cho bạn duy nhất trong phần intonation (giọng điệu) mà thôi. Bạn có thể đưa ra 3 câu hỏi khác nhau để học viên trả lời. Tùy từng câu mà học viên phải nhấn mạnh vào những thông tin khác nhau. Sau đó để học viên sử dụng máy tính để kiểm tra xem giọng điệu của mình đã chính xác chưa? Ví dụ:

* When did Tom drink five cups of coffee?

Tom drank five cups of coffee this morning.

* Who drank five cups of coffee this morning?

Tom drank five cups of coffee this morning.

* How many cups of coffee did Tom drink this morning?

Tom drank five cups of coffee this morning.

Với cùng một nội dung nhưng tùy từng tình huống mà chúng ta phải nhấn mạnh vào những thông tin khác nhau. Với dạng bài tập như thế này, học viên được đưa cho một đáp án mẫu, chính xác và nhiều câu hỏi khác nhau. Học viên có thể tập lên giọng, xuống giọng, nhấn mạnh sao cho đúng và so sánh với phần đọc của máy tính để có thể thấy mình đọc như thế nào. Bạn có thể đi vòng quanh lớp học và xem xét phần thực hành của học viên và giúp đỡ họ nói sao cho đúng. Đây chỉ là một ví dụ đơn giản trong việc sử dụng máy tính để dạy tiếng Anh. Bạn có thể áp dụng nhiều dạng bài tập khác nhau cho học viên của mình.

Qua bài viết này Global Education hy vọng chiếc máy tính sẽ trở thành một trợ giảng đắc lực của bạn trên lớp. Chúc bạn thành công với "người trợ giảng" mới này!

Đọc Tiếp

INTERNET – Phương pháp dạy học hiệu quả

(Global Education) - Ngày nay khi công nghệ phát triển, việc sử dụng máy vi tính trong việc giảng dạy quả không còn là điều xa lạ, bài học sẽ trở nên sinh động và có tính hiệu quả cao cùng với sự hỗ trợ của Internet. Mời các bạn cùng Global Education chia sẻ phương pháp học “mới mà không mới” trong bài viết này nhé!

Mục đích không phải để thấy công nghệ vi tính trong mối quan hệ tách biệt mà là một bộ phận hợp thành trong quá trình giảng day, nhằm hỗ trợ và nâng cao việc học. Do vậy, giáo viên cần nghĩ về cách thức sử dụng Internet trong lớp học.

Việc soạn bài giảng có sử dụng Internet đòi hỏi một số bước cơ bản sau:

1. Lựa chọn trang Web:

Khi lựa chọn trang web, cần chú trọng những câu hỏi sau đây:

* Ngôn ngữ có gợi cảm hứng không?
* Có âm thanh hay hình ảnh hỗ trợ không?
* Có đầu mối ngữ cảnh nào khác không?

Một số trang web hoặc có nội dung quá khó hoặc sử dụng ngôn ngữ quá phức tạp nên học sinh không thể sử dụng chúng một cách hiệu quả được. Ở đây, có thể cho phép các em tìm kiếm thông tin trên những trang web tiếng Việt rồi yêu cầu trình bày lại bằng tiếng Anh, sử dụng những cụm từ đã được dạy trên lớp.

2. Xác định mục đích:

Trong hoạt động giao tiếp, sản phẩm của những tác động qua lại đấy là gì? Khi tìm kiếm, thông tin sẽ được sử dụng làm gì và học sinh sẽ sử dụng chúng như thế nào? Các em có trình bày lại thông tin không?

Tư vấn mùa thi

Luyện nói tiếng Anh

Các em có so sánh các thông tin với nhau không? Tài liệu sẽ được sử dụng để thuyết trình bằng âm thanh hay hình ảnh chứ?

3. Chọn phương pháp:

Khi đã xác định được mục đích của hoạt động sử dụng Internet, có thể chuyển hướng sang tập trung vào phương pháp. Học sinh có các kỹ năng nhận thức để có thể tiến hành công việc mà bạn hình dung không? Giống như với các hoạt động trên lớp khác, công việc chính có phù hợp về nhận thức với nhóm lứa tuổi này hay không? Trẻ đã học những kỹ năng nghiên cứu cơ bản hay chưa? Học sinh có phân loại được đối tượng hay nhận ra các mẫu câu không? Các em có làm theo hướng dẫn đúng như trình tự các bước không? Học sinh có kiến thức về thế giới, đất nước và phong tục không? Các em có tổ chức được ý kiến theo một trình tự logic hay không? Các em có hiểu được các khái niệm đánh giá cơ bản không? Có thể một số học sinh có kỹ năng nhận thức trong khi các em khác có khả năng ngôn ngữ. Bằng cách xếp nhóm cho học sinh một cách phù hợp, giáo viên có thể khai thác được thế mạnh của mỗi em.

4. Giới thiệu chủ đề:

Tạo không khí bằng cách nói về chủ đề mà học sinh sắp làm việc. Gợi ra những hiểu biết từ trước và lướt qua các từ vựng quan trọng.

5. Tách công việc:

Nhiều trang web đầy rẫy những thông tin có thể làm rối mắt học sinh và ít liên quan tới công việc chính. Trước khi để học sinh làm việc độc lập, giáo viên cần hướng dẫn các em những phần trên trang web mà các em có thể sử dụng. Cách tốt nhất để làm việc này là giải thích rõ cho các em thấy. Nếu không có máy chiếu để chiếu trang web lên, giáo viên có thể chụp màn hình rồi sao ra cho học sinh.

6. Quản lý tốt thời gian:

Triển khai các bước rõ ràng ở mỗi giai đoạn hoạt động. Tránh để học sinh tìm kiếm các trang web linh tinh. Các em rất dễ đi chệch mục tiêu của hoạt động và kết thúc bằng việc lang thang bừa bãi trên các trang web. Cung cấp cho học sinh một danh sách các trang web đã được chọn lọc từ trước để các em làm việc. Cách này sẽ hạn chế được việc các em lãng phí thời gian vào những đường link không liên quan và ngăn không để các em vào xem những nội dung không phù hợp.

Không phải tất cả các trường học đều được trang bị phòng vi tính đủ lớn để mỗi học sinh có thể làm việc độc lập với một máy tính riêng. Đây không phải là vấn đề. Dù sao cũng không nên để mỗi học sinh làm việc với một máy tính cá nhân. Nếu có thể, hãy sắp xếp các em vào nhóm từ 3 – 4 người. Bằng cách này các em có thể tác động và hỗ trợ cho nhau. Nếu có đủ máy tính thì không nhất thiết phải giao cho học sinh làm cùng một công việc như nhau. Tiến hành một “hoạt động ghép hình”: yêu cầu mỗi nhóm nghiên cứu một hoạt động khác nhau của kế hoạch. Ví dụ, trong kế hoạch du lịch, một nhóm có thể làm về thời tiết, nhóm khác làm về vé máy bay, còn nhóm khác nữa lại làm về thức ăn. Như thế giáo viên sẽ không phải nghe đi nghe lại cùng một câu trả lời.

Chúc các bạn có một phương pháp dạy và học hiện đại!
Đọc Tiếp

Dạy con học tiếng Anh (Be a tutor of English)

(Global Education) - “Học mà chơi – Chơi mà học” là phương châm mà giáo viên và các bậc phụ huynh áp dụng cho trẻ tiếp cận với việc học ngoại ngữ bên cạnh ngôn ngữ mẹ đẻ của trong lứa tuổi 4 đến 6 – Lứa tuổi hình thành tâm lý, tính cách và đặc biệt là trí tuệ.

Sau đây là một số gợi ý nhỏ giúp bậc cha mẹ giúp trẻ của mình tiếp cận với tiếng Anh tốt nhất.

1. Dạy con học hát tiếng Anh

Âm nhạc được coi là một công cụ đắc lực trong việc học tiếng Anh. Mỗi khi ở cạnh bé các bậc phụ huynh có thể ngâm nga một vài câu hát tiếng Anh. Tiết tấu vui nhộn của bài hát sẽ tạo cho bé hứng thú để học tiếng Anh tốt hơn.

2. Nói chuyện với bé bằng tiếng Anh

Sau mỗi bài học ở trên lớp, các bậc phụ huynh nên giúp bé thực hành bài học ở trên lớp bằng cách nói chuyện với bé bằng tiếng Anh. Bé sẽ chỉ nhớ bài học nếu được thực hành thường xuyên. Ví dụ mỗi khi đi ngủ bạn nên nói “Good night” hay bạn có thể nói “Good morning!” vaò buổi sáng. Những câu chào tưởng chừng như đơn giản đó sẽ là một cách hay để giúp bé hình thành thói quen giao tiếp tiếng Anh một cách tự nhiên ngay từ nhỏ.

3. Rèn luyện thói quen đọc sách cho trẻ

Bạn nên rèn luyện cho bé thói quen đọc. Khi bé còn ở độ tuổi mẫu giáo, các bậc phụ huynh nên mua cho bé những quyển truyện tranh song ngữ đơn giản, nhiều màu sắc sinh động. Trước khi đi ngủ bạn có thể kể cho bé nghe các câu chuyện ngắn bằng tiếng Anh. Lần đầu các bậc phụ huynh có thể kể bằng tiếng Việt, sau đó kể lại bằng tiếng Anh. Mỗi khi có từ mới bạn nên nhắc lại nhiều lần cho bé nhớ.

4. Học tiếng Anh thông qua tranh vẽ

Hội họa cũng là một hình thức học tập rất hiệu quả đối với lứa tuổi 4-10 tuổi. Các bậc phụ huynh nên gợi ý các chủ đề bằng tiếng Anh cho trẻ vẽ hay tô như: “Ba đố con vẽ được con “Cat”… Hoặc bạn có thể làm ngược lại. Bạn sẽ dùng những bức tranh sinh động sau đó sẽ dạy bé các từ tiếng Anh liên quan.

Với không khí thoải mái, học mà chơi – chơi mà học, Global Education hi vọng các bậc phụ huynh sẽ trở thành những thầy cô giáo tuyệt vời dìu dắt các em đến với thế giới học tiếng Anh bổ ích và lý thú.

Đọc Tiếp

Các thủ thuật trong giảng dạy từ mới

(Global Education) - Tất cả chúng ta đều thấy được vai trò của việc trau dồi từ mới trong học tập tiếng Anh nói riêng, học tập ngoại ngữ nói chung. Tuy nhiên làm thế nào để giáo viên có thể dạy từ mới một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất lại không phải là vấn đề đơn giản.

1. Dạy từ mới dùng tranh ảnh minh hoạ

Ở phương pháp này, giáo viên chuẩn bị tranh ảnh có chứa nội dung kiến thức cần giảng dạy. Giáo viên giơ từng bức tranh và yêu cầu học sinh nhận biết nội dung chứa đựng trong bức tranh. Chẳng hạn khi dạy về từ “car” giáo viên có thể chọn một bức ảnh có chiếc xe ô tô trên báo hay tạp chí. Giáo viên giơ tranh lên và yêu cầu học sinh phát biểu ý kiến. Phương pháp này giúp học viên dễ nhớ từ mới và giúp cho giờ học trở nên sinh động hơn.

2. Dạy từ mới bằng kịch câm

Ở phương pháp này giáo viên dùng hành động, cử chỉ nét mặt của mình. Trên cơ sở đó học viên quan sát và đoán nghĩa của từ mới. Phương pháp này rất thích hợp để giảng dạy các từ chỉ hoạt động hay cảm xúccủa con người.

3. Dạy từ mới bằng vật thật

Phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị trước các đồ vật có trong cuộc sống hàng ngày. Giáo viên giơ vật đó lên và yêu cầu cả lớp nói nghĩa của từ tiếng Anh tương đương. Phương pháp này có thể mang lại hứng thú bất ngờ cho học viên vì học viên được luyện tập với các vật có thật trong thực tế.

4. Dạy từ mới bằng giải thích

Trong phương pháp này giáo viên giải thích cho học sinh về một sự vật hay một hiện tượng nào đó. Học viên sẽ nghe và đoán từ mới ấy bằng tiếng Việt hoặc bằng tiếng Anh.

Ví dụ:

Teacher: I don’t tell lies. I don’t cheat in the exams. I tell the truth. What am I? Tell me the word in Vietnamese, please.

Students: Trung thực ạ!

5. Dạy từ mới bằng cách đưa ra ví dụ

Giáo viên đưa ra một loạt các ví dụ, học viên phải nhóm chúng lại với nhau và tìm ra một từ khái quát nhất. Phương pháp giảng dạy này phát huy khả năng khái quát hoá của học viên đồng thời nó buộc học viên phải tư duy sáng tạo và lôgic.

Ví dụ:

Teacher: Everyday I have to cook. Every day I have to clean the house. Everyday I have to wash the dishes. What I am talking about?

Students: Housework.

6. Dạy từ mới bằng cách dùng từ đồng nghĩa hay trái nghĩa

Giáo viên sẽ dùng các từ đồng nghĩa hay trái nghĩa với từ mới để giúp học viên tìm ra từ mới đó.

Ví dụ:

Teacher: What is the opposite word of “quiet”?

Students: Noisy.

7. Dạy từ mới bằng phương pháp dịch

Phương pháp này chỉ được dùng như biện pháp cuối cùng khi các phương pháp trên không thể sử dụng được. Giáo viên sẽ dùng ngôn ngữ mẹ đẻ để giúp học viên tìm ra từ mới bằng tiếng Anh.

Ví dụ:

Teacher: How do you say “quên” in English?

Students: Forget.

Trên đây là các thủ thuật gợi mở trong giảng dạy từ mới. Để có một giờ học sinh động thì giáo viên cần chuẩn bị kĩ lưỡng giáo án và vật thật (nếu có) trước giờ lên lớp. Hãy biến giờ học từ mới thành một giờ học đầy bất ngờ và thú vị nhé!

Đọc Tiếp

Chuyện đi đứng của giáo viên trên lớp

(Global Education) - Chuyện đi đứng của giáo viên trên lớp có vai trò quan trọng không kém nội dung bài giảng. Tư thế và vị trí của thầy cô khi đứng lớp có tác động rất lớn đến học viên. Nhiều khi đây là chìa khoá giúp thầy cô giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến bài học một cách đơn giản mà hiệu quả.

Việc chọn tư thế đứng lớp phụ thuộc chủ yếu vào mục đích mà một hoạt động học tập cụ thể hướng tới. Có lúc chúng ta muốn là trung tâm của sự chú ý nhưng cũng có khi chúng ta muốn đóng vai trò người quan sát, hướng dẫn học viên hoạt động theo nhóm, theo cặp hay riêng lẻ. Và tư thế của chúng ta lúc đó cũng cần mang cùng ‘thông điệp’ với nội dung của hoạt động.

· Khi thầy cô đứng giảng bài trên lớp, học viên có thể thấy rõ thầy cô nên đây là tư thế thích hợp khi thầy cô muốn tập trung sự chú ý của cả lớp để giảng giải một vấn đề khó hay hướng dẫn cách thức tiến hành hoạt động học tập. Có thể một số giáo viên giàu kinh nghiệm biết cách duy trì sự chú ý của một nhóm nhiều học viên khi họ ngồi tại bàn giáo viên nhưng chắc chắn ở tư thế đó chúng ta không thể duy trì sự chú ý của cả lớp. Một vấn đề khác khi thầy cô giữ tư thế ngồi là ý nghĩa của tư thế ấy đối với học viên. Tuy việc ngồi xuống trước mặt học viên khi bắt đầu tiết học có thể tạo một không khí thân thiện và cởi mở nhưng nếu thầy cô vẫn giữ nguyên tư thế này trong cả tiết sẽ khiến học viên có cảm giác chúng ta thiếu nhiệt tình và hứng thú với tiết học đó. Hơn thế nữa, giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra không khí học tập trong lớp và khó có thể thực hiện được nhiệm vụ trên nếu chúng ta ngồi cả giờ.

· Tuy nhiên cũng có những lúc ngồi lại là tư thế thích hợp. Ví dụ: khi học sinh đang làm việc theo nhóm, theo cặp hay một mình. Họ sẽ mất tập trung nếu thầy cô cứ tiếp tục đứng nhưng cúi xuống lâu sẽ làm thầy cô không thoải mái. Lúc này tư thế thích hợp sẽ là ngồi đâu đó mà học sinh có thể dễ dàng hỏi khi cần sự giúp đỡ (ví dụ: ở giữa lớp hay trước mặt cả lớp…).

· Ngoài hai tư thế trên, tư thế cúi xuống cũng có rất nhiều ưu điểm. Trước hết, tư thế ấy mang thông điệp là thầy cô rất cơ động và sẽ không dừng lại chỗ một học viên, một cặp hay một nhóm lâu hơn mức cần thiết. Thứ hai, tư thế này chuyển chúng ta sang một vị trí tương đương với học viên.

- Tiếng Anh trẻ em

- Khai giảng lớp tiếng Anh dành cho trẻ em Hè 2009

- Giao thẻ miễn phí tại nhà

Điều này tạo ra một không khí thân thiện và cởi mở cho việc trao đổi thông tin và chắc chắn hoạt động đó sẽ hiệu quả hơn rất nhiều. Ưu điểm cuối cùng của tư thế này là thầy cô sẽ không phải dịch chuyển đồ vật xung quanh khi muốn lại gần một nhóm, một cặp hay một học viên nào. Như vậy chúng ta sẽ tránh được những tiếng ồn có thể làm phân tán tư tưởng học viên.

Không chỉ khiến bài giảng thêm sinh động, cách giáo viên di chuyển trong lớp còn là một phương pháp hữu hiệu trong giảng dạy:

· Khi thầy cô giảng bài:

o Học viên không chú ý nghe giảng, không làm theo những gì giáo viên hướng dẫn hay yêu cầu. Nếu nguyên nhân là chúng ta đang ngồi hay đứng tại nơi nào đó mà không phải học viên nào cũng nhìn thấy thì thầy cô có thể đứng lên hoặc di chuyển tới vị trí mà tất cả học viên có thể nhìn thấy mình. Để đảm bảo mọi học viên đều tập trung chú ý vào bài giảng, việc duy trì sự chú ý đến mọi học viên bằng ánh mắt là hết sức quan trọng.

· Khi học viên đang hoạt động theo cặp hay theo nhóm:

o Học viên ỷ lại vào giáo viên và không hoàn thành nhiệm vụ học tập; rất rụt rè trong việc đưa ra ý kiến riêng trong khi thảo luận. Nếu nguyên nhân là do giáo viên dừng lại với một nhóm/cặp quá lâu khiến học viên cảm thấy áp lực khi phải đưa ra ý kiến thì cách giải quyết khá đơn giản. Giáo viên có thể ngồi ở giữa hay trước lớp, di chuyển quanh lớp hay bất kỳ vị trí nào ngoài phạm vị hoạt động của nhóm/cặp mà học viên có thể hỏi khi cần trợ giúp.

· Khi học viên hoạt động riêng lẻ:

o Giáo viên không hỗ trợ học viên kịp thời nên quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập bị ngưng trệ. Nếu nguyên nhân là do giáo viên đứng hay ngồi quá xa học viên thì thầy cô chỉ cần tiến lại gần hơn hoặc di chuyển quanh lớp, giải đáp các thắc mắc của học viên và đảm bảo rằng học viên đang thực hiện nhiệm vụ đúng hướng.

o Giáo viên chỉ chú ý vào một hay một vài học viên trong lớp. Nếu nguyên nhân là do giáo viên ngồi cạnh một hay hai học viên và ở nguyên đó thì giải pháp tối ưu là di chuyển quanh lớp. Thầy cô có thể để ghế của mình ở giữa lớp, ngồi đó theo dõi học viên làm việc. Nếu nhóm/học viên nào đó có thắc mắc chúng ta có thể giải đáp kịp thời mà không khiến họ mất tập trung vì sự có mặt của thầy cô trong cuộc thảo luận.

Trên đây là một số kinh nghiệm mà Global Education muốn chia sẻ, hy vọng sẽ hữu ích đối với các bạn trong quá trình giảng dạy. Chúc các bạn thành công.

Đọc Tiếp

Dạy tiếng Anh qua các bộ phim

(Global Education) - Ngày nay với sự phát triển của công nghệ, việc sử dụng các thiết bị giảng dạy như video không còn quá xa lạ. Nhưng đã bao giờ bạn thử dạy tiếng Anh qua các bộ phim thay vì các đoạn video hội thoại đơn điệu chưa? Bạn có thể áp dụng phương pháp giảng dạy này một cách hiệu quả nếu tuân thủ một số quy tắc.

1) Lựa chọn phim phù hợp

Bạn hãy lựa chọn bộ phim phù hợp với học viên về các mặt như lứa tuổi, trình độ, mục đích khóa học, v.v. Bạn có thể lựa chọn bộ phim mà phần lớn học viên đều háo hức muốn xem bằng cách như sau:

*Đưa ra một danh sách gồm khoảng 20 bộ phim thuộc nhiều thể loại như tâm lý, hài, hành động, lãng mạn, hoạt hình, v.v.

*Cho học viên xem các vỏ VCD, DVD hay các trailer (đoạn phim ngắn), poster quảng cáo phim để học viên có thể biết được các diễn viên trong phim, hình ảnh hấp dẫn của phim cũng như nội dung sơ lược của bộ phim.

*Yêu cầu mỗi học viên chọn ra 3 phim họ muốn xem nhất, ghi ra giấy và nộp lại cho bạn.

*Tổng kết các yêu cầu và bạn sẽ chọn được bộ phim được học viên đón chờ nhất.

2) Không nhất thiết dành hết thời gian của buổi học để chiếu phim

Đừng để học viên cảm thấy nhàm chán hay mất tập trung vì một số cảnh dài dòng trong bộ phim. Bạn nên lựa chọn trước một số cảnh phim để làm ví dụ minh họa cho bài học một cách hiệu quả. Bạn có thể chọn một đoạn đối thoại thú vị giữa hai nhân vật chính (không nên chọn những đoạn đối thoại tình cảm quá ủy mị).

Phát cho học viên các đoạn đối thoại để đọc trước khi chiếu phim (Có thể tìm được lời thoại của bộ phim trên các trang web về điện ảnh hay trang web của bộ phim). Đến đoạn phim có cảnh đối thoại này, bạn hãy dừng chiếu phim và cho học viên đoán xem từng lời thoại của các nhân vật hoặc tiếp tục chiếu phim và yêu cầu học viên chép chính tả đoạn đối thoại. Có thể phát lại đoạn phim trên (có phụ đề) để học viên kiểm tra lại bài chép chính tả của mình.

- Nhân đôi tài khoản học tập

- Khai giảng lớp tiếng Anh dành cho trẻ em Hè 2009

- Tiếng Anh luyện thi

- Ôn luyện TOEFL-iBT

- Ôn thi cùng Hoa hậu Mai Phương Thúy

3) Không nên chỉ coi bộ phim là một bài luyện kỹ năng nghe

Thông qua bộ phim, học viên có thể học được nhiều điều ví dụ như các phong tục tập quán văn hóa, từ vựng, các hiện tượng ngữ pháp, các câu đối thoại, v.v. hơn là chỉ luyện kỹ năng nghe. Sau đây là một số hoạt động mà bạn có thể yêu cầu cả lớp thực hiện:

*Yêu cầu học viên viết cảm tưởng về bộ phim

Sau buổi học, bạn hãy yêu cầu mỗi học viên viết cảm tưởng, suy nghĩ về bộ phim, một cảnh hay một nhân vật trong phim. Đây sẽ là một bài tập luyện và kiểm tra kỹ năng viết của học viên.

*Yêu cầu học viên thực hiện các phép so sánh

Nếu bộ phim có các phiên bản khác nhau, hãy cho học viên xem tất cả các phiên bản đó và yêu cầu học viên so sánh các diễn viên cũng như nội dung, diễn biến, chất lượng của các phiên bản này. Nếu kịch bản phim được dựa trên một tác phẩm văn học, hãy yêu cầu học viên so sánh các tình tiết trong phim, sự diễn xuất của diễn viên với nội dung và các nhân vật trong tác phẩm văn học đó. Đây là một bài tập luyện kỹ năng phân tích và diễn đạt cho học viên. Bạn có thể yêu cầu học viên thực hiện bài tập này theo nhóm hoặc theo từng cá nhân.

*Yêu cầu học viên đoán xem điều gì sẽ xảy ra trong phim hay hành động tiếp theo của nhân vật là gì?

Đến một đoạn gay cấn trong phim, bạn sẽ cho dừng chiếu phim sau đó chia nhóm các học viên trong lớp và yêu cầu mỗi nhóm cùng bàn bạc và đưa ra một dự đoán cho cảnh tiếp theo, sau đó thuyết trình ý tưởng của nhóm trước lớp. Đây sẽ là một bài tập luyện kỹ năng thuyết trình và làm việc theo nhóm.

*Yêu cầu học viên dịch phụ đề cho phim

Nếu bộ phim có phụ đề bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt, bạn có thể cho học viên xem một đoạn phim với phụ đề tiếng Anh và yêu cầu dịch sang tiếng Việt, sau đó bật phụ đề tiếng Việt để học viên đối chiếu với bản dịch của mình. Đây sẽ là một bài tập dịch rất hiệu quả.

Qua hoạt động chiếu phim bạn không những củng cố các kĩ năng tiếng Anh cho học viên mà còn tăng vốn tri thức văn hóa xã hội và giao tiếp của họ. Tuân thủ các quy tắc, kết hợp với đa dạng hóa các loại hình bài tập sẽ khiến cho bài học thực sự hiệu quả và bổ ích.

Đọc Tiếp

Làm sao để dạy kèm hiệu quả?

(Global Education) - Để trau dồi ngoại ngữ, nhiều người đã lựa chọn hình thức tham gia các khoá học ở trung tâm. Nhưng với xu thế hiện nay, khi tính hiệu quả được đặt lên hàng đầu, hình thức dạy kèm, một thầy một trò ngày càng phổ biến và đáp ứng một cách thiết thực nhu cầu của các học viên đặc biệt là những người đi làm.

Rõ ràng hình thức này có nhiều ưu điểm. Do chỉ có một học viên duy nhất, nên đây là một môi trường học tập có sự tương tác rất cao giữa thầy và trò. Giáo trình cũng như phương pháp giảng dạy được thiết kế một cách phù hợp nhất với trình độ, kỹ năng cũng như khả năng tiếp thu của người học. Làm sao để những bài học luôn thú vị, phát huy được hiệu quả một cách nhanh chóng mà vẫn đảm bảo chất lượng, đáp ứng lòng mong mỏi của học viên luôn là một bài toán khó đối với các giáo viên của những lớp học dạng này.

Dưới đây là một số bí quyết có thể dẫn đến thành công cho giáo viên:

1. Nội dung học là gì? Tài liệu học tập tốt nhất là tài liệu có liên quan đến lĩnh vực chuyên ngành của người học. Hãy tìm hiểu trước về công việc cụ thể, sở thích riêng của học viên để soạn giáo án phù hợp nhất cho mỗi bài giảng. Đâu là điểm mạnh cần phát huy, điểm yếu cần khắc phục của học viên. Chính điều đó sẽ giúp học viên nhận thức sự cần thiết của việc vận dụng tiếng Anh trong công việc đồng thời cũng khơi dậy nguồn cảm hứng học tập.

2. Cần phải tìm hiểu kỹ mục đích học tập của học viên trước khi bắt đầu. Tiếng Anh giao tiếp hay tiếng Anh thương mại là cái mà họ cần. Dự định của bạn có thể là bổ sung cho họ vốn từ vựng về lĩnh vực chuyên môn mà họ cần dùng trong công việc, nhưng đó có khi không phải chính xác điều mà họ mong muốn. Có một số người trong quá trình sử dụng đã quen với thuật ngữ tiếng Anh chuyên ngành có thể sử dụng thành thạo trong công việc nhưng lại gặp nhiều khó khăn khi giao tiếp thông thường. Do đó họ muốn học sâu hơn về ngữ pháp, chức năng của từ trong câu hay phát triển các kỹ năng. Vậy thì hãy tìm hiểu trước nếu bạn không muốn mất thời gian soạn lại giáo án.

3. Phát huy tính chủ động của học viên. Bạn có thể khuyến khích học viên tự chọn tài liệu liên quan đến công việc cho từng buổi học. Những bức thư thương mại hay hợp đồng chưa hoàn chỉnh, một bài báo cần phải đọc, một trang web cần phải tìm hiểu bằng tiếng Anh…mà họ mang đến lớp chắc chắn là rất thiết thực.

4. Một thời gian biểu hay kế hoạch làm việc rõ ràng chi tiết là rất cần thiết nhưng đôi lúc hãy linh hoạt. Một khi phát hiện một lỗ hổng trong kiến thức của học viên, đó có thể là một gợi ý phù hợp cho nội dung của những bài học tiếp theo. Và giáo viên sẽ là người theo sát, trợ giúp cho học viên về mặt ngôn ngữ khi có những tình huống mới nảy sinh trong quá trình làm việc gây cho học viên không ít khó khăn.

5. Kết quả học tập cần phải được kiểm tra một cách thường xuyên. Bạn có thể xây dựng những đoạn hội thoại nhỏ hoặc cùng vói học viên thảo luận về một chủ đề nào đó. Hãy dạy cho họ những gì mà học viên cần. Điều đó giúp học viên nhận thấy rằng những vấn đề ngôn ngữ mà bạn đang đề cập là hoàn toàn tương thích với nhu cầu học tập của họ.

6. Cùng theo dõi chương trình làm việc. Bạn cần yêu cầu học viên ôn lại liên tục những vấn đề đã được học đặc biệt là mảng kiến thức khó. Từ đó khuyến khích học viên tự vạch ra giải pháp khắc phục. Trong quá trình giảng dạy, bạn có thể giải thích tại sao cái này hay cái kia mới quan trọng và lợi ích của mỗi hoạt động hay bài tập. Như chúng ta đã biết, khi học viên tự nhận thức được điều đó cũng có nghĩa là bạn đã đạt một nửa thành công rồi.

7. Sử dụng lớp học như một cuộc diễn tập thật sự, khuyến khích những tình huống có liên quan đến công việc như đóng vai, họp, gặp gỡ đối tác… Bên cạnh đó, sự hỗ trợ của các phương tiện khác nhau sẽ giúp cho giờ học được sinh động. Hôm nay có thể là sử dụng văn phòng, mai diễn tập qua điện thoại hoặc trên mạng vào một ngày khác. Bạn cũng có thể đa dạng hoá nguồn tài liệu của mình. Sự thay đổi luôn là sức mạnh khơi nguồn cảm hứng học tập cũng như cuộc sống.

10. Nghỉ ngơi đúng lúc. Đôi khi nghỉ ngơi lại mang lại hiệu quả nhiều hơn cả việc cố gắng khi mệt mỏi. Bởi vậy bạn hay học viên đều có thể đề nghị được nghỉ ngơi vào bất kỳ lúc nào nếu thực sự cần thiết.

12. Thay đổi vị trí học tập cho phù hợp với từng hoạt động. Có thể là ngồi song song có khi lại ngồi đối diện. Hoặc nếu học viên đang chăm chỉ ngồi làm bài tập, bạn có thể cho phép thư giãn một chút bằng cách ngồi ở vị trí cách xa học viên.

Qua đó, chúng ta có thể thấy rất nhiều phương pháp giúp hình thức dạy kèm ngày càng thú vị và bổ ích. Mỗi ngày chỉ cần bạn biết cách lập kế hoạch làm việc và tâm huyết với nó thì chắc chắn bạn sẽ có một khoá học thành công.

Đọc Tiếp

6 điểm cần lưu ý trong việc đánh giá học sinh

(Global Education) - Thông qua việc đánh giá học sinh trong lớp học, giáo viên có thể hiểu học sinh hơn và đẩy mạnh quá trình học tập đồng thời giúp học sinh có khả năng nhạy cảm, tự đánh giá được bản thân và tự định hướng cho mình trong quá trình học tập.

Nói cách khác, mục đích cuối cùng của việc đánh giá học sinh trong lớp là để nâng cao chất lượng học tập trong lớp. Phương pháp đánh giá được thiết kế giúp giáo viên tìm ra học sinh đang học được gì trên lớp và nhận thức được đến đâu. Để áp dụng phương pháp này, giáo viên cần nắm được 6 đặc điểm sau:

1. Học sinh là trung tâm

Việc đánh giá trong lớp học tập trung chủ yếu vào việc quan sát và nâng cao hoạt động học chứ không phải hoạt động dạy. Nhờ kết quả đánh giá, giáo viên và học sinh có thể tạo ra những điều chỉnh cần thiết để đẩy mạnh công tác học tập.

Giáo viên đóng vai trò định hướng: Giáo viên được tôn trọng sự tự do về học thuật cũng như những đánh giá mang tính chất chuyên môn. Mỗi giáo viên có quyền quyết định sẽ đánh giá cái gì, đánh giá như thế nào và làm gì với kết quả đánh giá đó. Thêm nữa, giáo viên cũng không bị buộc phải cung cấp thông tin đánh giá với người khác ngoài lớp học.

3. Giúp nhau cùng có lợi

Chính vì việc đánh giá là nhằm nâng cao hoạt động học nên giáo viên cần làm cho học sinh hiểu rõ rằng việc tham gia chủ động của học sinh là rất cần thiết. Bằng cách tham gia tích cực vào quá trình đánh giá, học sinh sẽ nắm bắt nội dung khóa học tốt hơn và tăng cường khả năng tự đánh giá. Học sinh sẽ hứng thú học tập hơn nếu họ thấy khóa học thú vị và xứng đáng để họ đầu tư công sức.

Giáo viên có thể nhận định rõ hơn sự tập trung của mình bằng cách trả lời 3 câu hỏi: “Tôi đang cố gắng dạy học sinh những kiến thức và kỹ năng thiết yếu nào?”, “Làm thế nào tôi biết được liệu học sinh có đang học những kiến thức và kỹ năng đó hay không?” và “Tôi phải làm gì để giúp họ học tốt hơn?”. Việc kết hợp chặt chẽ với học sinh khi trả lời những câu hỏi này sẽ giúp giáo viên tăng cường kỹ năng dạy và đạt được nhiều điều hiểu biết mới.

4. Tính chất xây dựng

Cần phải nhấn mạnh lại rằng mục đích của quá trình đánh giá trong lớp học là nhằm cải thiện chất lượng dạy học chứ không phải để đánh giá xếp loại học sinh. Vì vậy, giáo viên không nên phân hạng kết quả đánh giá và thông báo rộng rãi những thông tin đó.

5. Tính chất đặc thù

Việc đánh giá phải dựa vào những nhu cầu và đặc tính cụ thể của giáo viên và học sinh cũng như những nguyên tắc mà họ phải chấp hành. Những đánh giá có thể đúng trong lớp này nhưng chưa chắc đúng trong các lớp học khác.

6. Bắt nguồn từ quá trình dạy tốt

Quá trình đánh giá lớp học là một nỗ lực tạo ra những phản hồi về kết quả học tập của học sinh một cách có hệ thống hơn, linh hoạt và hiệu quả hơn. Giáo viên đặt ra câu hỏi, trả lời câu hỏi của học sinh, giám sát ngôn ngữ cơ thể và biểu hiện nét mặt, kiểm tra bài tập về nhà, các bài kiểm tra, v.v. Đánh giá trong lớp học cũng chính là một khâu liền mạch và hệ thống trong quá trình dạy và học.

Bằng cách nắm rõ 6 đặc điểm của phương pháp đánh giá trong lớp học như trên, giáo viên có thể khai thác kết quả đánh giá một cách hiệu quả nhất và đạt được mục tiêu cuối cùng là giúp quá trình học tập của học sinh ngày càng tốt hơn.
Đọc Tiếp

  ©Copyright by English 4 Student 2009. Ghi rõ nguồn: English 4 Student khi phát hành lại bài viết.



Back to TOP